HỘI NGHỊ THUỐC NAM_12_Lương Y Dương Phú Cường

 

TÌNH HÌNH SỬ DỤNG THUỐC GẦN NGƯỜI HIỆN NAY

 

Lương y Dương Phú Cường

 Phó Chủ tịch thường trực Hội Đông y

Quận Gò Vấp

 

Trong nhiều năm, làm việc ở các phòng khám từ thiện từ Huế đến Sài Gòn, có duyên hướng dẫn nhiều lớp sử dụng thuốc Nam (thường gọi là Thuốc Gần Người [1]). Có những lúc vào rừng sâu, tận mắt thấy những cây thuốc sinh trưởng, lắng nghe cách dùng thuốc của dân bản địa. Ánh ban mai lan tỏa sau từng tầng lá, hương của rừng và hương của hoa hòa quyện, đầy ắp và đầy ắp các cây thuốc bao đời. Vì thế không lạ gì Tiền Nhân phải thốt lên: “Thuốc Nam Việt trị người Nam Việt ([2]) Dùng cho đúng lý vẹn tình thương – Thuốc biết trong âm ẩn khí dương – Gần nếm cỏ cây trời đất phú – Người thầy xướng đạo chí can cường” ([3]). Hôm nay xin viết lại một ký sự, chuyển cho quý Thầy thuốc một thực trạng về thuốc Nam hiện nay, về nguy cơ tuyệt chủng bao giống nòi, không chỉ là một tầm nhìn báo động, mà chính là một hiện thực nguy cấp tổn hao khủng khiếp, ngày sau không còn cơ hội nhìn lại bằng thực thể sống động, chỉ còn lại huyền ảo hư vô, nếu chúng ta không nhanh tay bảo tồn xây dựng và đau xót. Dược thảo ấy quý đến độ không thể tính bằng tiền, mà là tài sản tri thức văn hóa nhanh chóng sẽ mai một. Nhiệm vụ đó chính là các thầy thuốc YHCT Việt Nam.

  1. MÔI TRƯỜNG SINH SỐNG THUỐC GẦN NGƯỜI:
  1. Thuốc từ núi rừng:

Thuốc, côn trùng, sinh vật, thú chim, ong bướm… ở trong rừng bị tàn phá cạn kiệt, bởi nạn phá rừng trồng cao su, làm than, trồng cây công nghiệp, bán đất, bán rừng, bán gỗ, làm dịch vụ du lịch, xây dựng tu viện, xây dựng các khu du lịch…gần như toàn bộ các cây thuốc hàng ngàn năm bị phá sạch, không phục hồi, không thể trồng lại. Mất cả đất để cây thuốc sinh trưởng, mất cả giống, mất cả môi trường phát triển…đi dần đến cạn kiệt nguồn nguyên dược liệu vô cùng quý hiếm. Những vùng đất bị con người khai phá, gần như không bao giờ có chỗ để được trồng thuốc lại.

Cây Huyết Giác (cây Xác máu) – vỏ cây già có màu như máu công dụng phá huyết ứ, bầm máu lâu ngày, nhiễm độc phần cơ nhục sưng bầm tím.


Cây Hạ khô thảo ở rừng núi Qui Nhơn mùa ra hoa (tên KH: Bururella vulgarei)

CD: an thần, giải độc, hạ áp huyết .

Năm 2006 rừng còn như vậy, cây thuốc trong rừng đầy ắp, khi chúng tôi vào thì có những xe ủi đang phá rừng.

Dây Ký ninh, dây Cóc – CD: chữa sốt rét, đau gan vàng da, đau lưng, sưng khớp.

Dây Huyết rồng sau khi cắt. Bí mật của Thuốc Gần Người là còn Sinh Chất. Nếu tồn trữ lâu ngày thì sinh chất không còn giá trị nhiều.

DÂY SÂM, Cách dùng: Vò nát, chế nước chờ đông lại, uống vào mát gan giải độc, lợi tiểu.

Dây Cổ rùa, dây Huyết rồng, Dây máu chó dày dặc trong rừng. Những loại thuốc nầy khi ngâm vào nước có màu đỏ như máu, người dân thường dùng bổ huyết, hành huyết, lương huyết… đã có từ hàng ngàn năm. Nay với vài nhát dao đã đứt lìa, vĩnh viễn không còn tồn tại những cây thuốc quý nữa.

Vừa chặt xong, chất nhựa màu đỏ thấm đẩm cả tay chân.

Rừng nay là như vậy, con người chặt phá không thương tiếc, họ chiếm đất, đốt trụi, chặt phá…và trồng những cây không thể mọc trên đá sỏi được, biết bao cánh rừng núi trở thành hoang mạc, cây thuốc bị hủy diệt, muôn đời sau biến mất không hồi phục được.

Trơ vơ thương nhớ núi rừng,

Chim không còn hót, tưng bừng sớm mai.

Trơ gan sỏi đá cành gai,

Rừng thiêng thuốc quý còn ai kiếm tìm?

Nhiều vùng đất biến thành hoang mạc, đe dọa môi trường, lũ lụt, hơi nóng, khí độc…hủy diệt lần mòn kiếp sống nhân sinh, hôm nay và ngày mai.

 

 

  1. Thuốc từ đồng bằng: Hiện nay người dân dùng thuốc diệt cỏ tràn lan, các côn trùng, chim, ong, bướm, sâu…những côn trùng có ích bị tiêu diệt sạch sẻ. Các loài cỏ: cỏ tranh, cỏ mực, cỏ xước, cỏ sữa, cỏ cú, cỏ mắc cỡ…tìm rất khó, rất ít và hình như đã biến dị mất cái nguyên bản.

Thanh tâm thảo (cỏ Mần chầu). CD: mát gan, lợi tiểu, an thần. Do dùng thuốc diệt cỏ tràn lan, đây là một loại cây rất thông dụng cho người và súc vật, vậy mà giờ đây càng ngày càng hiếm hoi.

Cỏ tranh từng đám lợp nhà,

Rễ thì lợi tiểu, lợp cao mát lòng.

  1. Thuốc từ nuôi trồng: giống loài hạn chế, đơn điệu, bẩm thụ thiên khí, địa khí, thời khí… còn rất hạn chế. Phục vụ chủ yếu cho nhu cầu kinh doanh sản xuất, nhu cầu các phòng khám là chính. Chưa đủ sức biểu lộ như là nét văn hóa và truyền thống về y học của người Việt Nam.

Những vườn cây Đinh lăng kỳ diệu,

Nâng sức, tiêu độc, nhiều công to,

Nên trồng rộng khắp ngoài trong,

Đây là thuốc quý Dược trung thường dùng.

 

  1. Thuốc đang sử dụng tại các phòng khám:

Các lương y có kinh nghiệm, có khả năng dùng thuốc Nam để điều trị chủ lực rất hiếm hoi: Hiện nay các phòng thuốc trong thành phố đại đa số dùng nhiều thuốc bắc. Có nhiều vị ban ngày làm phòng thuốc Nam từ thiện, lúc chiều tối về đến nhà chữa bệnh lại làm chuyên ròng thuốc bắc. Hỏi cớ sự vì sao? Quý thầy nói là do thị hiếu người dân, do người bệnh hiểu uống thuốc bắc thì mau lành hơn, do chính thầy thuốc có chủ ý như vậy… và do kinh tế cần phải như vậy. Đằng sau cũng còn nhiều nguyên nhân khác: Thuốc Nam tốt không có, nguồn gốc không rõ? Nguồn cung hay gián đoạn? … Không ai dám trả lời! Diễn đàn học hỏi kinh nghiệm điều trị thông suốt vững vàng cũng chưa đủ sức…càng nghe càng buồn cho thuốc Dân tộc.

Một vấn đề khác cũng rất quan trọng, khi một vị thầy thuốc đăng ký một bài thuốc để sản xuất thành phẩm: cao đơn hoàn tán, bài thuốc đó gồm những vị thuốc Nam gia truyền. Để đi đến được cấp phép sản xuất thì đường rất dài. Nhưng nếu vị thầy thuốc đó ghi bài thuốc đó bằng những vị thuốc bắc, với phương thang Lục vị, Bát vị, Bổ trung ích khí, Độc Hoạt Tang ký sinh… với những vị thuốc được nhập từ Trung Quốc, thì lại rất đơn giản. Mặc dù rằng tất cả những vị thuốc hai toa ấy đều được ghi trong các sách dược điển là thuốc, và không có độc cũng như an toàn đối với con người. Đây là điều hết sức quan trọng cho con đường phát triển tính tự cường của thuốc gần người.

  1. ĐỀ XUẤT SỬ DỤNG THUỐC GẦN NGƯỜI:

Vì Thuốc Gần Người mang tính xã hội, có tiêu chí toàn dân, tại chỗ, ban đầu, cấp bách, an toàn, hiệu quả, dễ dùng, mọi nơi. Vì thế, chương trình phát triển về Thuốc Gần Người nên từ và cùng với MTTQ, vì MTTQ là cơ quan chủ quản các hội Đông y, hội Người cao tuổi, Tôn giáo, các đoàn thể quần chúng nhân dân. Vì vậy khi triển khai các tiêu chí về Thuốc Gần Người rất dễ thực hiện và thực hiện có thành công.

CÁC ĐỀ XUẤT NHƯ SAU:

  1. Trồng: mỗi nhà một hai cây, mỗi tổ một vườn thuốc, mỗi khu phố là một vườn thuốc lớn.
  2. Săn sóc: Rất nhiều người, các bệnh nhân, người cao tuổi, người yêu việc từ thiện, các tín hữu các tôn giáo chuyên làm thuốc từ thiện… nếu được hướng dẫn chương trình, thấy được giá trị của Thuốc Gần Người, biết sử dụng, có kinh nghiệm thực hành và truyền đạt…rất nhiều người nhàn rỗi sẽ giúp chương trình thành công.
  3. Thu hái: đầu tiên là phải có kiến thức, rửa sạch, và bảo vệ được hoạt chất nguyên vẹn.
  4. Bào chế: được tập huấn và hướng dẫn, nếu dùng trực tiếp thường không qua bào chế, nếu các vị thuốc cần để lâu thì sẽ được hướng dẫn bào chế, trao đổi kinh nghiệm thường xuyên.
  5. Sử dụng: nhờ học hỏi kinh nghiệm, nhờ trao đổi với các thầy thuốc và các phương tiện truyền thông. Đem cho các phòng khám, cho dân khi có việc cần, làm rau ăn, dùng cho mình và gia đình mình, làm phước thiện…đơn giản và giá trị rất lớn.
  6. Cẩm nang sử dụng Thuốc Gần Người: Chúng ta cần biên soạn một cuốn cẩm nang: dễ sử dụng, dể hiểu và hiệu quả. Các thầy thuốc, tập hợp kinh nghiệm trên các trang mạng chuyên đề, nghe trong dân, thấu được lý, hiểu được tình, đạt được sự minh triết, tính xã hội, tính truyền thống, dân tộc, tính sử dụng thuốc Nam…Hội đông y các quận nên nhận trách nhiệm nầy.

 

PHƯƠNG PHÁP LUẬN NGHIÊN CỨU VÀ SỬ DỤNG  ([4])

THUỐC GẦN NGƯỜI

 

Lương y Dương Phú Cường

Phó Chủ tịch thường trực Hội Đông y Quận Gò Vấp

 

A. VÌ SAO NÊN SỬ DỤNG THUỐC GẦN NGƯỜI

1. Truyền thống lịch sử dân tộc:

·          Đất nước chúng ta trải qua nhiều cuộc chiến với người Phương Bắc, giao thương phải bế tắc. Thường khi lâm trận, quân địch phải bao vây mọi đường tiếp tế, nhất là lương thực và thuốc men. Nếu thuốc chỉ có từ phương Bắc, hoặc từ xa, thì quân và dân ta sẽ vô cùng khó khăn. Nếu chúng ta không có thuốc men, thì không thể nuôi quân và dân để chiến thắng quân ngoại xâm được. Vậy chắc chắn nước ta đã có cách điều trị dùng thuốc tại chỗ và phải có hiệu quả. Lịch sử đã để lại những trang vàng công cuộc giữ nước và dựng nước vang danh thiên cổ. Chúng ta phải tìm được bí ẩn sử dụng thuốc của ông cha ta từ đâu? Phải chăng thuốc gần người đã đủ toàn vẹn bản chất điều trị, bảo vệ sức khỏe cho toàn quân và dân ta để dẫn đến thắng lợi, bảo vệ vững chắc non sông tổ quốc ngàn đời nay.

Xin đơn cử một số ví dụ:

  1.  Thuốc cầm máu khi bị thương: trong chiến tranh, thường hay bị thương tích ra máu nhiều, sự sống bị đe dọa nghiêm trọng khi xuất huyết quá nhiều. Chúng tôi nhận thấy rất nhiều cây thuốc có tính cầm máu rất cao mà lại ít bị nhiễm trùng do vết thương hở, như các cây sau đây: Cây cỏ lào; cây cỏ Hôi, cây Bọ xít, cỏ Mực, Cây Lược vàng, Tóc rối, Bồ hóng bếp; Trắc bách diệp… thường rất dễ tìm do từng vùng địa phương đều có kinh nghiệm sử dụng. Khi máu đã cầm thường vết thương cũng dễ lành và ít bị nhiễm trùng.
  2. Tiểu đoàn trúng độc nấm: Năm 1965, Bác sĩ Phạm ngọc Thạch, Bộ trưởng Bộ y tế đã kể một câu chuyện như sau: vào năm1946 một đơn vị bộ đội bị ngộ độc vì ăn phải nấm độc, các thầy thuốc tây y cũng như Đông y đã bó tay, khi bác sĩ Thạch đến, sau khi xem xét và cũng đành chịu bó tay. Tình hình nguy cấp tính mạng nhiều người, mọi phương cách điều trị đều không mang lại kết quả. Trước hoàn cảnh khó khăn đó, có một bà cụ nông dân đến xin được điều trị, trước lời nói đầy vẻ tự tin, các thầy thuốc đành chấp nhận để bà cụ điều trị cho anh em bộ đội bị trúng độc. Sau đó bà cụ đi một hồi và đem về một ca nước và bảo những người trúng độc hãy đến uống. Sau một lúc thì toàn thể những người trúng độc đều đã hồi tỉnh, mọi người thật sự  kinh ngạc trước thành công kỳ diệu đó, và lại xuất phát từ một con người chân chất không hề có bằng cấp gì!. Ở đây chúng ta cũng nên tự hỏi, phải chăng con đường điều trị bệnh tật cho con người ngày nay từ trong hệ thống y tế là con đường duy nhất đúng, hay còn một hướng nghiên cứu khác? Thuốc bà cụ dùng là phân người phơi khô đốt thành than và nấu lên để uống (6). Trong sách thuốc cũng có rất nhiều vị thuốc lấy từ phân Dê, phân Dơi, phân con Trùn, phân người… với những tên rất hay như Dạ minh sa; Nhân trung hoàng.
  3. Thuốc rửa vết thương: vết thương bị nhiễm trùng cũng có khá nhiều cây trong rừng sâu dùng để rửa và cứu chữa như Rau dừa nước; lá Trầu không; Lá lốt; cây Mỏ quạ; Lô hội; cây Trường sinh… và còn rất nhiều. Ở đây không chú trọng chi tiết mà chỉ xin được giới thiệu một nét nhìn chân thật về tác dụng đa dạng của thuốc gần người để lòng tin chúng ta được tăng lên phần nào hầu gia tăng nghiên cứu và sử dụng.
  4. Về việc nhuộm răng của người xưa: đất Việt bị quân Tàu đô hộ, luật đưa ra phải y phục, đầu tóc, chữ viết, phong tục lễ nghi… đều giống quân Tàu, lẽ thường tình họ muốn đồng hóa dân Việt. Nhưng có một ai đó trong người Việt đề ra tục nhuộm răng màu đen, để giữ gìn răng khỏi sâu và đau nhức, bắt đầu từ tuổi thanh niên cả nam lẫn nữ. Ai cũng biết rằng kinh nghiệm về chứng đau răng là rất khổ sở. Chính vì tục nhuộm răng đã mang một số kết quả chữa răng thật sự, làm chắc răng và không đau răng. Hơn thế nữa nó là một tác phẩm nghệ thuật làm tôn vẻ đẹp của thanh niên nam, nữ Việt bằng câu thơ: “Hàm răng đen nhánh, hạt huyền kém xa”. Đi xa hơn nữa, chỉ cần nở một nụ cười là người ta có thể biết đó là dân An Nam, vì người Tàu không có tục nhuộm răng và họ rất sợ màu đen, vì màu đen là màu xui xẻo. Nên gái Việt không bị làm thê thiếp nhờ nụ cười có hàm răng đen. Và thế là một công đến ba, bốn việc đại thành: Chữa bệnh răng – làm đẹp răng – và bảo tồn được dân Việt không bị Tàu hóa. Thông thường bị chiếm đóng chừng vài trăm năm là khó giữ gìn bản sắc dân tộc trọn vẹn được, nay dân Việt bị đô hộ đến ngàn năm mà hồn thiêng dân tộc vẫn quật cường đánh tan quân xâm lược, có lẽ đâu tục nhuộm răng đã bảo vệ con gái Việt không thể làm thê thiếp cho ngoại bang, chính vì thế mà non sông vẫn còn, Con Rồng Cháu Tiên còn nguyên vẹn ngàn năm vẫn bền không phai. Đây không biết là tục nhuộm răng đã làm nên kỳ tích này không? Xin nhường lại cho các nhà sử học Việt Nam!  (chuyện này do cố học giả Quốc Thái kể lại)

·     Nếu phát huy được thuốc gần người thì rất phù hợp với chủ trương của Chính phủ, quyết tâm phát huy nền y học dân tộc.

Dùng THUỐC GẦN NGƯỜI làm mạnh tính TỰ CƯỜNG của dân tộc, nhờ tính tự chủ, tính độc lập để bảo vệ sức khỏe của đồng bào trong mọi hoàn cảnh của công tác bảo vệ tổ quốc thân yêu. Không phải chỉ với người Việt nam mà là mọi dân tộc trên toàn thế giới.

 

 

2. Phù hợp với lý luận y học cổ truyền:

·          Thiên – Địa – Nhân là một: Con người ở đâu, Trời Đất ở đó, mọi sự biến chuyển trời đất đều ảnh hưởng sâu sắc đến con người. Dùng cái chế ước được ([5]) chữa vào cái không thích ứng ([6]).

·          Trời Đất chỉ là hai khí Âm Dương lưu hành mà thành ngũ vận: Kim – Mộc – Thủy – Hỏa – Thổ đối đãi nhau mà ra Lục Khí. Lục Khí gồm Phong – Hàn – Thử – Thấp – Táo – Hỏa. Người sinh ra gốc ở Trời, gần với Đất, tức là chịu Ngũ Vận Lục Khí của Trời Đất chi phối để sinh ra Ngũ Tạng Lục Phủ. Tuy Vật với Người khác nhau, nhưng không bên nào là không thụ khí Trời Đất tại nơi mình sống để sinh ra. Đặc biệt Vật thường thiên về một Khí, mà Người thì được trọn vẹn Khí của Trời Đất ở quanh mình. Nếu Khí trong Nhân thể hơn kém nhau thì sinh bệnh tật, nên phải mượn dược vật quanh mình thiên về một khí để điều hòa cân bằng trở lại. Dược vật đó là: Sâu Bọ, Đất Đá, Cỏ Cây, Muôn Thú ở quanh mình. Đó là lẽ Thiên – Địa – Nhân hợp nhất ([7])

Với vùng khí hậu mà Thử và Thấp là chính, thì con người sống trong môi trường đó chắc chắn phải chịu nhiều Khí Thử và Thấp. Khí Thấp nhiều thì đình đọng, Thử nhiều thì hại Khí, khí càng hại thì Thấp lại càng nặng. Do vậy người hay nhọc mệt, dáng nặng nề, làm ít mà ưa nằm nghỉ. Đặc điểm khí hậu này là vùng Đồng Bằng Sông Cửu Long, địa hình thấp mà nhiều nước, lượng mưa trong năm nhiều, vùng khí hậu nhiệt đới. Ở đây có nhiều cây chữa được bệnh Thấp mà không hao Khí, đó có phải là lý sinh hoá có tự trong Trời Đất chăng? Vùng khác không thể có được? Thường những cây thuốc có vị thanh, cay nhẹ mà không tán, vị không hậu vì vị đậm thì thường tán, nên rất giỏi lợi Thấp mà dưỡng được khí.

Ở tỉnh Thừa Thiên – Huế. Khí hậu thay đổi thất thường, khi nắng nóng thì như có lửa; khi lạnh thì như cắt da thịt. Thế đất chỉ có một vùng nhỏ thôi mà khi núi đồi; khi thì biển cả bao la; khi sông suối sâu như vực, biến hóa cấp bách tạo thế khí hậu thay đổi thường đột ngột. Vì thế nhiều vị thuốc cũng tùy lúc mà biến chuyển theo như khí hậu, bản tính phải mạnh mẽ mới đủ khả năng thích nghi hầu mới tồn tại được, thật mênh mông đa dạng không kể hết được. Cây trái, con vật thường là nhỏ nên tính dương thắng âm, sức chịu đựng dẻo dai. Chí khí con người ở đây ẩn tàng mà kiên cường, sâu sắc, cẩn thận mà hơi vị kỷ là vậy, vì không dự phòng sợ tai ương đến không tránh nổi, âu đó cũng là cơ Trời! Người xưa thường dạy “địa linh sinh nhân kiệt” ([8]), thường đất càng khó thì người càng khôn. Như vậy thuốc ở vùng thấp khác vùng cao, tuy cùng giống loài nhưng bản tính hoàn toàn khác nhau. Thầy thuốc đông y dùng thuốc rất trọng Dược lý là bản thể của thuốc, dược tánh là hiện tướng, và dược chất cụ thể góp phần quan trọng vào sự toàn vẹn của công tác nghiên cứu và sử dụng thuốc. Nên đất khó thì tính thuốc thường mạnh. Ở vùng miền trung Việt Nam, các tỉnh Phan Rang, Phan Thiết nắng (thường gọi là Thử khí) và gió (thường gọi là Phong Khí) rất nhiều. Nắng thì hao dịch, phơi gì cũng mau khô. Còn gió thì làm sự bốc hơi càng nhanh. Nên người vùng này thường khô gầy và đen do gió và nắng quá mức. Nhìn ở quanh thì có rất nhiều vị thuốc bồi dưỡng tân dịch và dưỡng được Khí như sau: Thanh Long; Nho; Chanh; Cam; Quýt; Hải sâm; Giun biển; Nam dương lâm; hải sản vô cùng phong phú. Để thấy lý của Trời Đất cực kỳ thâm diệu, thường bớt ch dư và bù vào ch thiếu. Tin ở điều này thì dùng Thuốc Gần Người chẳng những không sợ mất uy tín vì thuốc không hay, mà còn dựa vào lý của Trời để phát huy cao độ y nghiệp rạng ngời hơn nữa, tôi chưa từng thấy ai dựa vào Lý Tự Nhiên (quy luật tự nhiên) mà bị sai bao giờ?

Với người ở trong vùng khí hậu Phong và Thử, thì chắc chắn phải chịu hao tổn nhiều Tân dịch và Nguyên khí.

Chính vì thế, Dược vật ở trong vùng nào, sống được tươi tốt, phát triển tốt, thì nó đã chế ước được khí quá mức của vùng đó, nên con người dùng Dược vật để bổ sung cái mình hao tổn. Có thể gọi là «đồng khí thì tương cầu”.

Cây thuốc ở gần thường dễ cân bằng với sự mất cân bằng của cơ thể hơn. Vì “đồng khí thì tương cầu”

3. Góc độ lâm sàng:

            Chúng ta thường nghe, ai đó, đau bệnh gì? và đã dùng thuốc gì? đa phần là những cây cỏ có ở xung quanh mình, được lập đi lập lại nhiều lần, vừa an toàn và chắc chắn. Đó là những kinh nghiệm quý báu để điều trị. Các thầy thuốc vườn, thường không học hành bao nhiêu, nhưng kinh nghiệm dùng thuốc của họ không phải thường. Họ đã cứu nhiều người qua bao thế hệ. Cần suy gẫm điều này!

            Có những vấn đề cần phải giải thích rõ ràng mới sử dụng. Nhưng có một số kinh nghiệm của tiền nhân đôi lúc cứ dùng trước và giải thích sau (vì giải thích chưa được). Vì tác dụng điều trị an toàn đã rõ ràng! có nhiều người đòi giải thích nhưng ai sẽ giải thích! người ta cho các công trình khoa học sẽ giải thích! nhưng các công trình đó của nhiều người, nhiều nơi và đôi lúc họ cũng không thống nhất với nhau. Nhiều lúc hôm nay nói khác rồi ngày mai kết quả lại khác (vì “khoa học là mồ chôn của lý thuyết”).

            Khoa học không chỉ là thực nghiệm mà chứng nghiệm cũng là khoa học, sự chứng nghiệm đôi lúc còn khoa học hơn cả thực nghiệm.

Ví dụ: Khoa học không thể thấy tình yêu giữa hai vợ chồng, nhưng giữa hai người thì tình yêu đó họ có thể cảm nhận được và họ biết được, nhưng không thể dùng lời nói để diễn tả hết được.

4. Tính nhân bản:

· Cấp bách: thường bệnh hay cấp bách, “cứu bệnh như cứu hỏa” nếu ngồi chờ thuốc ở xa chắc dân mình đâu còn sống đông đảo như ngày nay! Do đó thuốc ở gần hết sức trọng yếu.

· Phổ quát: Ai cũng có thể dùng được, ai cũng được trời đất ban tặng cho cây thuốc để có thể bình đẳng chữa bệnh cho mình và cho xã hội. Nếu thuốc ở xa thì phải đắt tiền, chỉ có người giàu mới được sống thôi sao? Đó là không đúng lẽ Đạo của Trời đất. Vì Đạo Trời lấy lẽ công bằng làm trọng.

· Tính thân thiện – Nhân đạo: Có thể dễ dàng trao đổi, hướng dẫn cho nhau sử dụng gây nên sự nối kết trong tình làng nghĩa xóm: “Khi tối lửa tắt đèn có nhau”, “Bán anh em xa, mua láng giềng gần” là vậy.

· Tính biết ơn: Chúng ta nhớ ơn Trời đất, tổ tiên đã hy sinh không biết bao nhiêu xương máu để có non sông gấm vóc này. Vì thế tất cả những điều hiện diện đều là những quà tặng vô giá mà chúng ta phải nghiên cứu và ứng dụng với lòng biết ơn. Chúng ta sẽ tạo rất nhiều công ăn việc làm nhờ sự trồng trọt, chăm sóc cây thuốc, nhất là những người cao tuổi. Xã hội càng lúc càng có nhiều người cao tuổi, để họ sống không có việc làm thì thật buồn chán và là gánh nặng cho gia đình và xã hội. Săn sóc, gây trồng cây thuốc là niềm vui mà người cao tuổi nào cũng thích. Một công việc không đầu tư nhiều tiền bạc, có tính đại chúng và lợi ích to lớn, đem lại nhiều hiệu quả kinh tế và xã hội thì đáng quý biết bao.

Trong trường hợp xã hội có biến động, chúng ta cũng không phải lo thiếu thuốc men. Đó không phải là kế chiến lược xây dựng sự trường tồn của tổ quốc, của đồng bào hay sao?

5.      Phù hợp với xu hướng thời đại:

· Thế giới ngày nay đang trở về với tự nhiên, mỗi dân tộc phải khai phá, khám phá tự nhiên ở quanh mình là trọng yếu, hiểu biết không phải dễ dàng. Thuốc từ tự nhiên đã được xác định bằng khoa học về độ an toàn và hiệu quả là đáng kinh ngạc. Nếu chúng ta không khám phá cây thuốc gần mình, lẽ đâu chúng ta giỏi về cây thuốc ở đất nước khác?

· Nếu chúng ta sử dụng được Thuốc Gần Người, thì chúng ta sẽ bảo vệ chúng và phát huy mỗi ngày một rộng lớn hơn. Như vậy đã bảo vệ được môi trường, mà môi trường càng tốt thì sức khỏe được cải thiện, không đúng với xu thế của thời đại sao?

Tóm lại: Với cái nhìn như vậy chúng tôi thấy sử dụng Thuốc Gần Người đem lại nhiều lợi ích to lớn vô cùng.

Chúng tôi không nói thuốc ở xa là không hay, nhưng chúng tôi xác quyết rằng thuốc ở gần thường cần hơn ở xa.

Chúng tôi cho rằng: cây nào càng nhiều, dễ trồng dễ mọc trong môi trường mình sống là cây thuốc quý. Cây nào khó trồng, khó mọc, khó chăm sóc thì không cần kíp lắm. Nó vẫn dùng được mà không trọng yếu.

Ở đây xin được nói rõ hơn, thuốc chỉ là một phương cách điều trị bệnh tật, ngoài ra còn nhiều phương cách khác. Không phải chỉ có cây thuốc và vị thuốc mà còn rất nhiều phương thế điều trị ở gần. Cái gì nhiều dể tìm dể kiếm ở gần thường là trọng yếu như: phương pháp day ấn huyệt; xoa bóp; châm cứu; cạo gió; tập dưỡng sinh; thiền; Yoga… đều là các phương pháp có thể dự phòng và điều trị bệnh tật theo từng giai đoạn, có chỉ định cần thiết và đúng lúc. Thường ở rất gần, hu hiệu, hiệu quả; rẻ tiền và dễ kiếm.

 

B. CÁC PHƯƠNG PHÁP SỬ DỤNG Thuốc Gần Người :

.         Thổ nhưỡng luận:

Mỗi vùng đất có vị trí, thế đất và bầu trời khác nhau, nên khí hậu cũng khác. Vì thế, sản sinh cây cỏ, muông thú khác nhau. Trong đó dược vật, dược thảo cũng khác. Không có vấn đề chỉ có thuốc ở Trung Quốc là tốt, còn ở Việt Nam không có thuốc tốt được. Đặc sản mỗi vùng mỗi khác. Vùng này có và vùng kia không thể có được.

Ví dụ: ở Lâm Đồng (Đà Lạt) chủ khí hàn và táo. Vì hàn nên tinh hoa tụ lại mà không phát tán lên cao được thì trồng được Cà rốt, Khoai tây, Bắp cải, Sinh địa… Vùng Phan Rang, Phan Thiết chủ khí phong và thử, phong nhiều thì hại khí, thử quá nhiều thì hao âm huyết. Vùng này chỉ trồng những cây Nho, Dừa, Thanh long, Lô hội, Xương rồng… những loại cây có sở trường dưỡng được âm huyết, vì lẽ âm huyết còn thì khí có chỗ nương mà không thoát được, đó không phải là lẽ của Đạo Âm Dương sinh hóa sao?

Vùng Đồng Bằng Sông Cửu Long nặng về khí thử mà thấp, do xứ nhiệt đới mà nhiều sông rạch. Thử nhiều thì hao khí, thấp nhiều thì nặng nề làm khí càng tổn thương thêm. Con người ta sống được nhờ nguyên khí còn tồn, vì thế, dược thảo vùng này thường có công năng lợi thấp mà dưỡng khí như Đinh lăng, Mắc cỡ, Mớp gai, Mần chầu, cỏ Mực, cỏ Xước… Đó cũng là lẽ của Trời Đất sinh hóa mà ra vậy.

Qua vấn đề này, mỗi khi dùng thuốc, chúng ta cần phải chú trọng nó xuất phát ở đâu để biết cái khí mà nó bẩm thụ vì lẽ “đồng khí tương cầu”. Khi dùng thuốc, trước tiên nên kiếm thuốc quanh mình, vì lẽ cây gì nhiều, dễ trồng dễ mọc trong vùng mình sống là những cây thuốc rất thường cần. Vì thường cần nên quí. Cây gì khó trồng, khó mọc, khó kiếm, là vì khí không đồng, nên nó không mọc được. Nó có thể rất quí, nhưng ít khi cần, vì ít cần nên người làm thuốc không trọng. Vì thế, dùng thuốc nên chú trọng đến vùng đất sinh trưởng, vì nơi sinh trưởng thay đổi rất nhiều dược lý, tính vị dược liệu, thường nó phù hợp với “người đâu thuốc đó”

2.      Hình sắc luận:

Hình của dược liệu gợi ý tính thuốc, cây cao khác cây thấp, cây bò lên khác cây bò ngang, cây mềm khác cây cứng. Gợi cho chúng ta suy tư về ý tứ để dùng.

Rất nhiều người dùng giỏi Đương quy, Tần giao, Đông trùng hạ thảo, Nhân sâm, Nhục đậu khấu… Nhưng hỏi đến cây, con vật đó mọc hoặc sống ở đâu, hình dáng màu sắc thế nào? Ở trên đất hay cắm rễ sâu dưới đất? thường không biết được. Vì thế không hiểu được khí vị mà nó bẩm thụ, nên dùng không hết trọn vẹn sức mạnh. Ví dụ:

  •       Tế tân: hình nhỏ mà sắc đen, vị rất cay.
  • Tử tô: sắc tía, hột cứng chắc.
  • Tô ngạnh: cạnh nhánh chỉa ra bốn phía, chủ vào tay chân
  • Quế chi: là cành nhánh cây Quế, cứng chắc nên chạy vào gân cốt, hướng lên cao
  • Bạc hà: là loại thảo mộc nhỏ, mọc thành chùm, không chỉ một thân, cho nên phân tán bốn phía lên tới đầu cổ
  • Trắc bá diệp: hình như các mạch máu li ti, sắc xanh, hướng lá cứ đi lên nên làm lương huyết
  • Bông cây Ngũ trảo: sắc trắng mà mọc ở trên cao thì đi vào phần Khí, xông và tán ở phần trên, thông mũi não
  • Cà Độc dược: trái gai rất nhiều, hình sắc hung dữ thì phải đề phòng độc
  • Thầu dầu tía: sắc đỏ như máu, càng lên cao càng đỏ, có tính hoạt huyết, tán ứ làm chủ. Loại cây độc, phải biết mới được dùng.
  • Cây Cối xay: sắc xanh mà nhu nhuận có thể nghĩ đến tán ứ, thư cân chẳng hạn.
  • Cây Mơ lông: bò lên, lan ra rất nhanh có nhiều lông, sắc đỏ xanh thẫm, mùi hôi khó chịu thì có thể nghĩ nó có khả năng khoan khoái đại trường.
  • Địa long: sắc đen, như mạch máu, lại mềm dai liên tưởng đến các chứng mạch máu bị xơ cứng, tắc mạch, lão hóa mạch…

Nếu chịu suy nghĩ chúng ta có một kho tàng thuốc ở quanh mình theo cách nhìn như vậy. Cách suy tư này, sau khi đối chiếu với các công trình khoa học nói về các vị thuốc đó thì thấy tác dụng cũng như vậy. Vì thế chúng tôi nhận biết vạn sự trong trời đất luôn luôn có tính đồng nhất lý là hoàn toàn xác định được.

Thường hình sắc thì lộ tính, nhìn dáng người có thể đoán một số tính cách của họ. Cũng vậy, làm thuốc phải chú trọng hình sắc của dược vật, chính từ bên ngoài sẽ giải thích khá nhiều điều bên trong. Hình sắc không phải vô lý mà sinh ra như vậy, thường là có chủ ý rất chính xác không thể lầm lẫn được, nếu không chú trọng thì dùng có phần không quyết đoán.

3.      Thời luận:

Mỗi dược vật phải có thời, nghĩa là nó hoàn tất sinh trưởng ở một thời nào đó, một mùa nào đó trong năm, thì nó bẩm thụ khí hậu đặc biệt trong thời gian đó. Còn như nó càng lâu năm càng tốt, thì đã được khí trọn vẹn của Trời Đất.

Ví dụ: Như con gà, nếu muốn nuôi nhanh, thì cho uống thuốc tăng trọng, thuốc bổ, thuốc kích thích thì con gà sẽ lớn rất nhanh, nhưng nó rất yếu, dễ bị bệnh và không có khả năng tự tìm mồi để sống. Còn gà ta thì đủ ngày đủ tháng nó mới lớn, tự kiếm thức ăn, mạnh khỏe và tăng trọng chậm. Giữa hai loại gà đó, về chất lượng thì chúng ta ai cũng biết, gà ta ăn ngon hơn gà Mỹ nhiều. Cũng vậy, cá đồng và cá nuôi ai cũng thích ăn cá đồng vì nó bẩm thụ khí tự nhiên, đúng thời nó mới lớn đủ, còn cá nuôi thì không phải như vậy.

Dạo này người ta bán rau má lá nhỏ đắt hơn rau má lá lớn, nghe đâu rằng rau má lá nhỏ không có phân hóa học! Nghĩa là nó đúng thời mới trưởng. Người ta trọng sự trưởng thành bởi qui luật tự nhiên.

Cây trái ngày nay cũng vậy, người ta dùng thuốc kích thích tăng trưởng ra thật nhiều sản lượng. Và cái giá phải trả là cây dễ bị bệnh chết, hoa quả tuy rẻ mà không ngon bằng, dễ hư thối là do không đủ thời để bẩm thụ. Khi nói về Bông hồng không ai không nghĩ đến tình yêu đôi lứa. Bông hồng mua ngoài chợ đem về chưng chừng một đến hai ngày thì héo rũ thảm hại, còn bông hồng trồng trong vườn với sự phát triển tự nhiên, khi hái chưng trong nhà, sau cả tuần vãn còn đẹp và tươi, không rũ cánh. Người xưa đã ví von “ép dầu ép mỡ, ai nỡ ép duyên con”. Bông hồng ép cho ra nhanh và mau lớn đã tạo sự giả tạo như tình yêu bị ép uổng, tuy có nụ cười đó mà đau đớn trong lòng. Mượn lời thi hào Nguyễn Du:

 “Thề hoa chưa ráo chén vàng,

lỗi thề thôi đã phũ phàng với hoa”.

Vì thế thời của vị thuốc rất trọng yếu, chứ không phải có cân lượng là đủ, mà phải xem sự trồng trọt thu hái như thế nào? Có thuận sự sinh trưởng tự nhiên mới là toàn vẹn của Thiên lý.  (còn gọi là lẽ Trời; lẽ không hề thay đổi).

Thuốc lại rất quan trọng Thời. Vì không đủ Thời thì bẩm thụ Khí Trời Đất không trọn vẹn. Nên khi thu hái phải biết mùa sinh trưởng và kết thúc để nhận trọn vẹn sức mạnh của thuốc.

4.         Khí vị luận:

Người dùng thuốc chẳng những biết được hình sắc của cây thuốc, vị thuốc, mà còn phải nếm thuốc. Không nếm thuốc thì khó cảm nhận hết khí vị của dược vật được. Với một vị chua: khế, cam, sơ-ri, táo, ngũ vị tử, chùm ruột, me, giấm, chanh, nho, quít… nếu không nếm, không gần gũi, thì không cảm nhận được. Vì dùng thuốc trong chứng bệnh này thì dùng vị này với liều lượng bao nhiêu, trong chứng kia thì lại dùng vị khác tuy cùng một vị chua nhưng tên thuốc lại khác. Nếu không chứng nghiệm bằng nếm thử, thì làm sao lập phương?

Mỗi loại dược liệu đều có khí và vị đặc thù. Khí: thăng, giáng, phù, trầm. Vị mặn, ngọt, chua, cay đắng, chát, nhạt.

Tóm lại, qua bốn yếu tố trên chúng tôi muốn nói đến vấn đề gì? Xin thưa là tính âm dương của dược liệu. Hễ vị thuốc nào có tính: cay, nóng, ấm, nhám, nhỏ, nhọn, chắc, cứng, màu đỏ, khô… thường thuộc dương hoặc thiên về tánh dương. Còn vị nào: trơn, trắng, đen, mềm, nặng, nhớt, bầu nhiều nước… thì thuộc âm, hoặc mang nhiều tánh âm. Nắm được vấn đề này rất quan trọng trong công tác điều trị. Bản chất của vấn đề điều trị là xác định bệnh này thuộc dương hay âm. Nếu đã xác định được và thuốc cũng xác định được thì vấn đề lập phương điều trị không còn nhiều khó khăn nữa. Nhớ lại y tổ Hải Thượng có dạy rằng: “Thà lầm thuốc ôn bổ, quyết không được lầm dùng thuốc hàn lương” vì “Hàn ngộ hàn tắc tử”. Người thầy thuốc không nắm được bệnh thuộc âm hay thuộc dương một cách rõ ràng e khó là thầy thuốc hữu dụng.

 

5.      Kế thừa:

Một đời người thường quá ngắn ngủi, nếu không kế thừa tinh hoa của tiền nhân, thì sự hiểu biết không đáng là bao nhiêu! Những người đi trước thường để lại nhiều tinh hoa, kinh nghiệm quí giá cho đời sau. Làm thuốc mà không kế thừa giống như người nghiên cứu khoa học mà không cần học hỏi thành quả nghiên cứu của những khoa học gia đi trước. Tuy vậy, những kinh nghiệm ngày trước cũng không phải luôn luôn phù hợp với bệnh cảnh hôm nay và ngày mai. Vì thế, vận dụng kiến thức đã có, nghiên cứu hoàn cảnh hiện tại để phát huy điều trị mà không nên rập khuôn.

Có nhiều bài thuốc gia truyền rất hay, nhưng cũng có nhiều bài gia truyền rất độc, làm hại bệnh nhân. Rồi cũng vì kế thừa, có nhiều người tự xưng có bài thuốc gia truyền nổi tiếng mà thực ra là trộn thuốc tân dược có độc làm hại không kể xiết. Vì thế, chúng ta phải kế thừa làm rạng ngời tâm đức tổ tiên chứ đừng làm hoen ố danh thơm của họ.

Tôi chưa gặp bài thuốc gia truyền chữa một bệnh

 

Lượt xem: 1.058
Đang xử lý...